User Tools

Site Tools


11620-j-pop-la-gi

Differences

This shows you the differences between two versions of the page.

Link to this comparison view

11620-j-pop-la-gi [2018/11/07 17:08] (current)
Line 1: Line 1:
 +<​HTML><​br><​div><​div class="​thumb tright"><​div class="​thumbinner"​ style="​width:​152px;"><​img alt=""​ src="​http://​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​d/​de/​Utada_Hikaru_2004.jpg/​150px-Utada_Hikaru_2004.jpg"​ width="​150"​ height="​231"​ class="​thumbimage"​ srcset="//​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​d/​de/​Utada_Hikaru_2004.jpg/​225px-Utada_Hikaru_2004.jpg 1.5x, //​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​d/​de/​Utada_Hikaru_2004.jpg 2x" data-file-width="​260"​ data-file-height="​400"/> ​ <div class="​thumbcaption">​Hikaru Utada, nữ ca sĩ có album <​i>​First Love</​i>​ được coi là bán chạy nhất mọi thời đại trong lịch sử Oricon</​div></​div></​div>​
 +<​p><​b>​J-pop</​b>​ ジェイポップ<​span style="​font-weight:​ normal">​ (<span style="​color:#​555;"><​span class="​t_nihongo_kanji"​ lang="​ja">​jeipoppu</​span><​span class="​t_nihongo_norom"​ style="​display:​none"><​span class="​t_nihongo_comma"​ style="​display:​none">,</​span>​ <​i><​span class="​t_nihongo_romaji">​ジェイポップ</​span></​i></​span><​span class="​t_nihongo_help noprint"><​span class="​t_nihongo_icon"​ style="​font:​ bold 80% sans-serif; text-decoration:​none;​padding:​0 .1em;"><​sup>?</​sup></​span></​span></​span>​)</​span>​ là viết tắt của cụm từ <​i>​Japanese pop</​i>​ (tiếng Việt: <​b>​nhạc pop tiếng Nhật</​b>​ hay <​b>​nhạc pop Nhật Bản</​b>​),​ nó cũng là định nghĩa tương đối về một thể loại âm nhạc đã bùng nổ ở thị trường âm nhạc Nhật vào thập niên 1990. Từ này cũng ám chỉ những nghệ sĩ âm nhạc nổi tiếng của Nhật và được sử dụng bởi giới truyền thông Nhật để phân biệt những nghệ sĩ âm nhạc Nhật với những nghệ sĩ nước ngoài.
 +</p>
  
 +
 +
 +<​h3><​span id="​Nh.E1.BB.AFng_n.C4.83m_1920_-_1950:​_Ry.C5.ABk.C5.8Dka"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Những_năm_1920_-_1950:​_Ryūkōka">​Những năm 1920 - 1950: Ryūkōka</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h3>​
 +<div class="​thumb tleft"><​div class="​thumbinner"​ style="​width:​152px;"><​img alt=""​ src="​http://​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​6/​61/​%E8%97%A4%E5%B1%B1%E4%B8%80%E9%83%8E.jpg/​150px-%E8%97%A4%E5%B1%B1%E4%B8%80%E9%83%8E.jpg"​ width="​150"​ height="​192"​ class="​thumbimage"​ srcset="//​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​6/​61/​%E8%97%A4%E5%B1%B1%E4%B8%80%E9%83%8E.jpg/​225px-%E8%97%A4%E5%B1%B1%E4%B8%80%E9%83%8E.jpg 1.5x, //​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​6/​61/​%E8%97%A4%E5%B1%B1%E4%B8%80%E9%83%8E.jpg/​300px-%E8%97%A4%E5%B1%B1%E4%B8%80%E9%83%8E.jpg 2x" data-file-width="​1162"​ data-file-height="​1486"/> ​ <div class="​thumbcaption">​Ichiro Fujiyama, ca sĩ nổi tiếng của thể loại <​i>​ryūkōka</​i></​div></​div></​div>​
 +<​p>​Âm nhạc đại chúng Nhật Bản, được gọi là <​i>​ryūkōka</​i>,​ được phân chia thành hai thể loại <​i>​enka</​i>​ và <​i>​poppusu</​i>,​ có xuất xứ từ thời kỳ Minh Trị, nhưng phần lớn các học giả Nhật coi thời kỳ Taishō mới là điểm khởi đầu của ryūkōka, vì đây mới là thời kỳ mà dòng nhạc này giành được tiếng vang toàn quốc. Vào thời kỳ Taisho, các nhạc cụ phương Tây, đã được giới thiệu vào Nhật Bản từ thời Minh Trị, được sử dụng rộng rãi. Chịu ảnh hưởng bởi những dòng nhạc của phương Tây như jazz và blues, ryūkōka đã kết hợp với những nhạc cụ phương Tây như vĩ cầm, harmonica và guitar. Tuy nhiên giai điệu thì vẫn được viết theo thang âm Nhật Bản.
 +</p>
 +<​h3><​span id="​Th.E1.BA.ADp_ni.C3.AAn_1960:​_Ngu.E1.BB.93n_g.E1.BB.91c_c.E1.BB.A7a_phong_c.C3.A1ch_hi.E1.BB.87n_.C4.91.E1.BA.A1i"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Thập_niên_1960:​_Nguồn_gốc_của_phong_cách_hiện_đại">​Thập niên 1960: Nguồn gốc của phong cách hiện đại</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h3>​
 +<div class="​thumb tright"><​div class="​thumbinner"​ style="​width:​202px;"><​img alt=""​ src="​http://​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​6/​61/​Kyu_school_band.PNG/​200px-Kyu_school_band.PNG"​ width="​200"​ height="​149"​ class="​thumbimage"​ srcset="//​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​6/​61/​Kyu_school_band.PNG/​300px-Kyu_school_band.PNG 1.5x, //​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​6/​61/​Kyu_school_band.PNG 2x" data-file-width="​311"​ data-file-height="​232"/> ​ <div class="​thumbcaption">​Kyu Sakamoto với ban nhạc ở trường. Ca khúc "​Sukiyaki"​ của ông đã trở thành bài hát tiếng Nhật duy nhất từng dành vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100.</​div></​div></​div>​
 +<​p>​Năm 1956, phong trào nhạc Rock and Roll phát triển rầm rộ nhờ những nhóm nhạc nổi tiếng như Kosaka Kazuya và Wagon Masters, việc những nhóm nhạc này biểu diễn ca khúc nổi tiếng của Elvis Presley là <​i>​Heartbreak Hotel</​i>​ càng làm khuấy động nóng lên cho phong trào. Thể loại này được giới truyền thông Nhật gọi là "<​i>​Rokabirī</​i>""​ (ロカビリー). Các ca sĩ học tập thể loại nhạc này và dịch lời các ca khúc nổi tiếng của Mỹ, dẫn đến phong trào <​i>​Cover Pops</​i>​ (カヴァーポップス,​ <​i>​Kavā poppusu</​i>​). Phong trào Rokabirī đạt đến đỉnh cao khi 45.000 khán giả Nhật tới xem buổi biểu diễn của những ca sĩ Nhật tại Carnival phương Tây Nichigeki trong một tuần vào tháng 2 năm 1958.
 +</p>
 +<​h3><​span id="​Th.E1.BA.ADp_ni.C3.AAn_1970:​_Ph.C3.A1t_tri.E1.BB.83n"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Thập_niên_1970:​_Phát_triển">​Thập niên 1970: Phát triển</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h3>​
 +<​p>​Đầu thập niên 1960, âm nhạc Nhật Bản bị ảnh hưởng bởi sự hồi sinh của nhạc dân gian Mỹ, điều này được gọi là "<​i>​fōku</​i>"​ (フォーク),​ dù cho thể loại nhạc này phần lớn là các bài hát lại (cover) của những ca khúc gốc.
 +</​p><​p>​Đầu thập niên 1970, âm nhạc Nhật chuyển từ những ca khúc đơn giản được đệm bởi guitar sang các ca khúc được biên soạn phức tạp hơn được gọi là <​b>​New Music</​b>​ (ニューミュージック,<​i>​nyū myūjikku</​i>​). Thay vì những thông điệp xã hội, các ca khúc thuộc thể loại này tập trung vào các thông điệp cá nhân như tình yêu.
 +</​p><​p>​Thể loại nhạc rock thời kỳ này chưa thực sự phát triển ở Nhật Bản. Tuy nhiên đến năm 1978, đĩa đơn "<​i>​Toki yo Tomare</​i>"​ của rocker Eikichi Yazawa trở thành một hit lớn với hơn 639.000 bản được bán ra. Ông được tôn vinh là người tiên phong cho nhạc rock Nhật Bản. Trong khi đó, Keisuke Kuwata thành lập nhóm nhạc rock Southern All Stars và cho ra mắt vào năm 1978. Southern All Stars hiện vẫn nổi tiếng cho tới ngày nay. Cùng năm đó, Yellow Magic Orchestra cũng ra đời, ban nhạc gồm 4 thành viên này đã phát triển thể loại electropop. Southern All Stars và Yellow Magic Orchestra đã chấm dứt thời kỳ của New Music.
 +</p>
 +<​h3><​span id="​Th.E1.BA.ADp_ni.C3.AAn_1980"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Thập_niên_1980">​Thập niên 1980</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h3>​
 +<div class="​thumb tleft"><​div class="​thumbinner"​ style="​width:​252px;"><​img alt=""​ src="​http://​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​e/​e7/​Xjapan_hongkong.jpg/​250px-Xjapan_hongkong.jpg"​ width="​250"​ height="​147"​ class="​thumbimage"​ srcset="//​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​e/​e7/​Xjapan_hongkong.jpg/​375px-Xjapan_hongkong.jpg 1.5x, //​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​e/​e7/​Xjapan_hongkong.jpg/​500px-Xjapan_hongkong.jpg 2x" data-file-width="​1600"​ data-file-height="​938"/> ​ <div class="​thumbcaption">​Buổi biểu diễn của nhóm X Japan</​div></​div></​div>​
 +<​p>​Trong thập niên 1980, từ <​b>​City Pop</​b>​ được dùng để mô tả thể loại âm nhạc đại chúng lấy bối cảnh thành phố, trong đó thành phố Tokyo đã trở thành nguồn cảm hứng đề tài cho nhiều nghệ sĩ. Dù City Pop bị ảnh hưởng bởi New Music, ban nhạc rock Happy End được coi là một trong những người khai sinh ra dòng nhạc này ở Nhật Bản.
 +</​p><​p>​Trong thập niên này các nghệ sĩ nhạc rock trở nên rất nổi tiếng như Southern All Stars, Anzen Chitai, The Checkers, The Alfee, Boøwy và TM Network. Alfee trở thành nghệ sĩ đầu tiên thu hút được 100.000 người tới concert. Boøwy trở thành ban nhạc rock có ảnh hưởng, 3 album của nhóm đã giành được vị trí quán quân năm 1988, giúp họ trở thành những nghệ sĩ nam đầu tiên giành được kỳ tích này trong vòng một năm. Cuối thập niên 1980, phong trào visual kei nổi lên trong thể loại nhạc rock của Nhật, đây là một phong cách nổi bật với các nhóm nhạc nam, họ trang điểm đậm với những kiểu tóc kỳ quái và những trang phục lưỡng tính. Những đại diện tiêu biểu là X Japan và Buck-Tick.
 +</​p><​p>​Thời kỳ này cũng đánh dấu sự nổi lên của những ca sĩ, nhóm nhạc thần tượng như Mari Amachi, Saori Minami, Momoe Yamaguchi, Candies, Akina Nakamori, Kyōko Koizumi, Yōko Oginome, Miho Nakayama, Minako Honda và Chisato Moritaka. Các ca sĩ, nhóm nhạc thần tượng đã giành được những thành công đáng kể và hiện vẫn là những thành phần chính của thị trường âm nhạc Nhật Bản.
 +</p>
 +<​h3><​span id="​Th.E1.BA.ADp_ni.C3.AAn_1990"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Thập_niên_1990">​Thập niên 1990</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h3>​
 +<div class="​thumb tright"><​div class="​thumbinner"​ style="​width:​222px;"><​img alt=""​ src="​http://​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​f/​fa/​Namie_AmuroatMAA_Crop.png/​220px-Namie_AmuroatMAA_Crop.png"​ width="​220"​ height="​129"​ class="​thumbimage"​ srcset="//​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​f/​fa/​Namie_AmuroatMAA_Crop.png/​330px-Namie_AmuroatMAA_Crop.png 1.5x, //​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​f/​fa/​Namie_AmuroatMAA_Crop.png/​440px-Namie_AmuroatMAA_Crop.png 2x" data-file-width="​503"​ data-file-height="​296"/> ​ </​div></​div>​
 +<​p>​Đây là giai đoạn mà thị trường âm nhạc Nhật Bản phát triển mạnh mẽ với những chiến lược marketing hiệu quả và tập trung vào việc sản xuất các sản phẩm âm nhạc với số lượng lớn. Thời kỳ từ 1990 tới 1993 là giai đoạn âm nhạc Nhật bị thống trị bởi những nhóm nhạc, ca sĩ được quản lý bởi các công ty, tiêu biểu là các nghệ sĩ như B'z, Tube, T-Bolan, Zard, Wands, Maki Oguro, Deen, Keiko Utoku và Field of View. Giai đoạn 1994 tới 1997, dòng nhạc dance/​techno xâm lấn với sự nổi lên của những nghệ sĩ như TRF, Ryoko Shinohara, Yuki Uchida, Namie Amuro, Hitomi, Globe, Tomomi Kahala và Ami Suzuki.
 +</​p><​p>​Trong giai đoạn từ 1997 tới 1999 là giai đoạn đỉnh cao của thị trường thương mại âm nhạc Nhật Bản với hàng loạt ca sĩ đạt được cột mốc hàng triệu bản CD bán ra thị trường. Trong đó nổi bật nhất là việc Hikaru Utada bán được 7.650.000 bản cho album đầu tay <​i>​First Love</​i>​ sau khi nó được tung ra thị trường vào tháng 3 năm 1999.
 +</p>
 +<​h3><​span id="​Th.E1.BA.ADp_ni.C3.AAn_2000:​_.C4.90a_d.E1.BA.A1ng_h.C3.B3a"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Thập_niên_2000:​_Đa_dạng_hóa">​Thập niên 2000: Đa dạng hóa</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h3>​
 +<div class="​thumb tleft"><​div class="​thumbinner"​ style="​width:​102px;"><​img alt=""​ src="​http://​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​5/​50/​Ayumi_Hamasaki_2007.jpg/​100px-Ayumi_Hamasaki_2007.jpg"​ width="​100"​ height="​129"​ class="​thumbimage"​ srcset="//​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​5/​50/​Ayumi_Hamasaki_2007.jpg/​150px-Ayumi_Hamasaki_2007.jpg 1.5x, //​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​5/​50/​Ayumi_Hamasaki_2007.jpg/​200px-Ayumi_Hamasaki_2007.jpg 2x" data-file-width="​990"​ data-file-height="​1280"/> ​ </​div></​div>​
 +<​p>​Thập niên 2000, những ảnh hưởng của dòng nhạc R&amp;B và Hip hop tràn tới Nhật Bản. Tháng 11 năm 2000, nhóm nhạc R&amp;B Hóa học bán được 1,14 triệu bản trong tuần đầu tiên <​i>​The Way We Are</​i>​. Hay album <​i>​MusiQ</​i>​ của Orange Range tiêu thụ được 2,5 triệu bản, biến nó trở thành album ăn khách nhất năm 2005.
 +</​p><​p>​Đây là giai đoạn nổi lên sự xuất hiện của công ty quản lý nổi tiếng Johnny &amp; Associates, công ty đã đào tạo ra hàng loạt tên tuổi đình đám của âm nhạc Nhật giai đoạn này. Ca sĩ Ayumi Hamasaki tạo nên một cơn chấn động trong lịch sử Giải thưởng Thu âm Nhật Bản khi trở thành ca sĩ đầu tiên giành 3 giải grand pix liên tiếp từ 2001 tới 2003.
 +</​p><​p>​Khởi đầu là "​cuộc chiến"​ giữa những nhóm nhạc nữ thần tượng như AKB48, Hello! Project (Morning Musume, Cute, Berryz Kobo và S/mileage), Super Girls.
 +</p>
 +<div class="​thumb tright"><​div class="​thumbinner"​ style="​width:​222px;"><​img alt=""​ src="​http://​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​0/​0c/​Momoiro_Clover_Z_LIVE_1.png/​220px-Momoiro_Clover_Z_LIVE_1.png"​ width="​220"​ height="​151"​ class="​thumbimage"​ srcset="//​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​0/​0c/​Momoiro_Clover_Z_LIVE_1.png/​330px-Momoiro_Clover_Z_LIVE_1.png 1.5x, //​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​0/​0c/​Momoiro_Clover_Z_LIVE_1.png/​440px-Momoiro_Clover_Z_LIVE_1.png 2x" data-file-width="​685"​ data-file-height="​470"/> ​ </​div></​div>​
 +<​p>​Thời kỳ này cũng đánh dấu sự trở lại của những cựu binh làng nhạc Nhật Bản. Mặc dù tỷ lệ bán album ngày càng sụt giảm nhưng lượng khán giả tới xem các buổi biểu diễn ngày càng gia tăng. Năm 2007, Eikichi Yazawa trở thành nghệ sĩ đầu tiên biểu diễn 100 lần tại Nippon Budokan. Những nghệ sĩ nhạc rock như Mr. Children, B'z, Southern All Stars và Glay vẫn giành được vị trí quán quân trong giai đoạn này. Ca khúc "<​i>​Sign</​i>"​ của Mr. Children đã giành được giải Grand pix tại Giải thưởng Thu âm Nhật Bản năm 2004. Album <​i>​Home</​i>​ năm 2007 của Mr. Children cũng giúp nhóm vượt qua cột mốc 50 triệu đĩa bán ra tại Nhật, giúp nhóm trở thành nghệ sĩ có lượng album bán ra nhiều nhất ở Nhật Bản sau B'z với hơn 75 triệu đĩa.
 +</p>
 +<​h3><​span id="​Th.E1.BA.ADp_ni.C3.AAn_2010"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Thập_niên_2010">​Thập niên 2010</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h3>​
 +<​p>​Khởi đầu là "​cuộc chiến"​ giữa những nhóm nhạc nữ thần tượng như Momoiro Clover Z, Tokyo Girls' Style.
 +</p>
 +
 +<table role="​presentation"​ class="​mbox-small plainlinks sistersitebox"​ style="​background-color:#​f9f9f9;​border:​1px solid #​aaa;​color:#​000"><​tbody><​tr><​td class="​mbox-image"><​img alt=""​ src="​http://​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​4/​4a/​Commons-logo.svg/​30px-Commons-logo.svg.png"​ width="​30"​ height="​40"​ srcset="//​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​4/​4a/​Commons-logo.svg/​45px-Commons-logo.svg.png 1.5x, //​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​4/​4a/​Commons-logo.svg/​59px-Commons-logo.svg.png 2x" data-file-width="​1024"​ data-file-height="​1376"/></​td>​
 +<td class="​mbox-text plainlist">​Wikimedia Commons có thư viện hình ảnh và phương tiện truyền tải về <​i><​b><​span>​J-pop</​span></​b></​i></​td></​tr></​tbody></​table>​
 +
 +<​!-- ​
 +NewPP limit report
 +Parsed by mw1302
 +Cached time: 20181026054233
 +Cache expiry: 1900800
 +Dynamic content: false
 +CPU time usage: 0.176 seconds
 +Real time usage: 0.215 seconds
 +Preprocessor visited node count: 477/1000000
 +Preprocessor generated node count: 0/1500000
 +Post&#​8208;​expand include size: 39894/​2097152 bytes
 +Template argument size: 327/2097152 bytes
 +Highest expansion depth: 8/40
 +Expensive parser function count: 0/500
 +Unstrip recursion depth: 0/20
 +Unstrip post&#​8208;​expand size: 0/5000000 bytes
 +Number of Wikibase entities loaded: 0/400
 +Lua time usage: 0.019/​10.000 seconds
 +Lua memory usage: 800 KB/50 MB
 +--><​!--
 +Transclusion expansion time report (%,​ms,​calls,​template)
 +100.00% ​  ​83.563 ​     1 -total
 + ​52.02% ​  ​43.472 ​     2 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Navbox
 + ​47.17% ​  ​39.417 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Nh&#​7841;​c_Pop
 + ​38.44% ​  ​32.118 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Th&#​7875;​_lo&#​7841;​i_Commons
 + ​35.50% ​  ​29.669 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​D&#​7921;​_&​aacute;​n_li&​ecirc;​n_quan
 + ​32.29% ​  ​26.985 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​H&#​7897;​p_b&​ecirc;​n
 + ​10.32% ​   8.627      1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Nihongo
 +  5.13%    4.284      1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Yesno
 +  4.21%    3.516     85 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:&​middot;​
 +  3.43%    2.862      1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Tham_kh&#​7843;​o
 +--><​!-- Saved in parser cache with key viwiki:​pcache:​idhash:​348996-0!canonical and timestamp 20181026054233 and revision id 39488959
 + ​--></​div>​
 +
 +</​HTML>​
11620-j-pop-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:08 (external edit)